Cứu Nước hay cứu Đảng?
Thứ Hai, 19 tháng 5, 2014
Cứu Nước hay cứu Đảng?
VRNs (15.05.2014)- Sài Gòn- Đảng và Nhà nước
Cộng sản Việt Nam đã rất khôn ngoan và kiên quyết chống nhân dân đòi dân chủ,
tự do nhưng lại hoang mang và lúng túng khi phải đối diện với hiểm họa mất nước
vào tay Trung Cộng.
Bằng chứng đã hiện ra
trước mắt kể từ ngày 3/5 (2014) khi Bắc Kinh đem giàn khoan HD-981
và một lực lượng quân sự hùng hâu bảo vệ vào hoạt động công khai bên
trong vùng “đặc quyền kinh tế” 200 hải lý (lối 370 cây số) của Việt Nam.
Khu vực đặt giàn khoan khổng lồ
HD-981 nằm phía nam quần đào Hòang Sa nhưng chỉ cách đảo Lý Sơn, Tỉnh Qủang
Ngãi khỏang 119 hải lý (lối 221 cây số) , hay 80 hải lý (trên 148 cây số) bên
trong lằn ranh ngòai cùng của vùng “đặc quyến kinh tế”. Giàn khoan do
Trung Cộng chế tạo tốn lối 1 tỷ dollars, có khả năng hoạt động ở độ nước sâu
3000 mét và mũi khoan có khả năng đào sâu 10,000 mét.
Giàn khoan này được Bắc Kinh
bảo vệ bởi gần 100 tầu chiến có hỏa tiễn và súng nặng, máy bay, tầu săn ngầm và
hàng chục tầu đổ bộ, Hải giám, Hải cảnh, Ngư chính, Cứu hộ, Vận tải và tầu cá
vỏ sắt
Sau hơn 2 tuần lễ, không
có dấu hiệu nào cho thấy Trung Cộng sẽ bỏ cuộc, mặc cho Việt Nam phản đối, chỉ
trích hay dùng tầu “đâm nhau” hoặc xịt nước xua đuổi lẫn nhau trên Biển
Đông.
Từ ngày 13/5 (2014) phía Cảnh
sát biển Việt Nam báo cáo về đất liền “tình hình rất căng thẳng” trong khi Phát
ngôn viên của Bộ Ngọai giao Trung Cộng Hoa Xuân Oánh thản nhiên bảo “Việt Nam
sẽ thất bại” vì Trung Quốc tìm kiến dầu khí “trên biển của Trung Quốc” !
Phía Việt Nam cho biết cứ mỗi
lần các tầu Cảnh sát biển của Việt Nam tìm cách tiến gần giàn khoan HD-981 thì
các tầu Hải Giám và Hải Cảnh của Trung Cộng lại ngăn chặn hoặc bao vây tầu Việt
Nam. Cảnh sát biển Việt Nam
cũng báo cáo các tầu Trung Cộng đã nhiều lần chạy với tốc độ mạnh toan đâm vào
tầu Việt Nam nhưng các tầu
Việt Nam
đã tránh được.
Các chuyên viên Quốc tế quan
ngại về thái độ cứng rắn và hung hãn lần này của Trung Cộng trong vụ giàn khoan
HD-981 vì Bắc Kinh biết Việt Nam không có khả năng quân sự đề đuổi giàn khoan
và các tầu của Bắc Kinh ra khỏi khu vực.
Tuy nhiên lực lượng Cảnh sát
biển Việt Nam nói họ kiên quyết bám vị trí và nhất định xua đuổi giàn khoan
HD-981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế, nhưng không biết có thành công hay
không.
VIỆT NAM ĐÃ LÀM GÌ ?
Về phía Trung Cộng thì tình
hình tại chỗ cho thấy không có dấu hiệu nào Bắc Kinh sẽ bỏ cuộc. Họ nói gìan
khoan HD-981 có thời khóa biểu hoạt động 100 ngày ở vùng biển của Việt Nam, kể
từ 3/5/2014, nhưng không ai chắc Trung Cộng sẽ rút lui sau thời gian này.
Có nhiều lo ngại từ phiá Việt
Nam sợ Bắc Kinh sẽ tiếp tục rời đi chỗ khác để tìm kiếm dầu trong phạm vi đường
Lưỡi Bò (hay đường 9 đọan) mà Trung Cộng đã “tự chế ra” từ năm 2009
để chiếm biển của nước khác. Diện tích của đường Lưỡi Bò chiếm tới
2/3 của tổng số 3.5 triệu cây số vuông Biển Đông, bao gồm cả Hòang Sa và
Trường Sa của Việt Nam.Vậy đảng và nhà nước CSVN đã làm gì để bảo vệ sự vẹn
tòan lãnh thổ mà không bị đánh bẹp bởi quân Trung Cộng ở Biển Đông
?
Thứ nhất, về mặt ngọai giao, ngòai phản đối bằng
văn bản, họp báo, họp tay đôi trung cấp và cuộc điện đàm duy nhất
giữa Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngọai giao Phạm Bình Minh và Ngọai trường
Trung Cộng Dương Khiết Trì, không có bất cứ hành động nào của cấp Tổng Bí
thư giữa hai đảng. Thủ tướng Việt-Trung cũng không nói chuyện với nhau.
Thậm chí có tin “không chính
thức” nói rằng Tổng Bí thư-Chủ tịch Nhà nước Trung Cộng Tập Cận Bình đã không
thèm đáp lại đề nghị gặp nhau ở Bắc Kinh của Tổng Bí thư Việt Nam Nguyễn
Phú Trọng để thảo luận về vụ giàn khoan HD-981.
Nếu tin này có thật thì liên
lạc Việt-Trung đã rẽ sang một hướng rất nghiêm trọng và ông Trọng
đã không những bị họ Tập coi thường mà uy tín của ông Trọng cũng không
còn với đảng và người dân trong nước.
Diễn đàn quốc tế duy nhất mà Việt
Nam đã sử dụng để nói lên lập trường của mình và lên án hành động của Trung
Cộng đã diễn ra ngày 11/5 tại thủ đô Nay Pyi Taw , Miến Điện, nước chủ
nhà tổ chức Hội nghị ASEAN cấp cao kỳ thứ 24.
Tại đây, Thủ tướng Việt Nam
Nguyễn Tấn Dũng đã đọc bài diễn văn chỉ đích danh Trung Cộng đã “Từ ngày 01/5/2014 Trung Quốc đã ngang nhiên đưa giàn khoan nước
sâu cùng hơn 80 tàu vũ trang, tàu quân sự và máy bay hộ tống đi vào vùng biển
Việt Nam và đã hạ đặt giàn khoan này tại vị trí nằm sâu trên 80 hải lý trong Thềm
lục địa và vùng Đặc quyền Kinh tế của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về
Luật Biển 1982.
Các tàu hộ tống bảo vệ giàn
khoan của Trung Quốc đã rất hung hăng bắn vòi nước có cường độ mạnh và đâm húc
thẳng vào các tàu công vụ, tàu dân sự của Việt Nam, gây hư hại nhiều tàu và làm
nhiều người bị thương.”
Ông Dũng nói : “Đây là lần đầu tiên Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan vào hạ
đặt tại địa điểm nằm sâu trong Thềm lục địa và vùng Đặc quyền Kinh tế của một
nước trong ASEAN, là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng Luật pháp Quốc tế, Công
ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và cũng là sự vi phạm đặc biệt nghiêm trọng
Tuyên bố về Ứng xử của các Bên trên Biển Đông (DOC) mà Trung Quốc là một Bên
tham gia ký kết.
Hành động cực kỳ nguy hiểm này
đã và đang đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải ở
Biển Đông.”
Thủ tướng Dũng cáo buộc Trung
Cộng “ không những không đáp ứng yêu cầu chính đáng của Việt Nam mà còn
vu khống, đổ lỗi cho Việt Nam và tiếp tục dùng sức mạnh, gia tăng các hành động
uy hiếp, xâm phạm ngày càng nguy hiểm và nghiêm trọng hơn.”
Tuy nhiên hy vọng ASEAN sẽ có
phản ứng mạnh theo yêu cầu của Việt Nam đã thất bại
Tổ chức Hiệp hội các nước Đông
Nam Á chưa bao giờ đòan kết khi phải đối phó với Trung Cộng vì quyền lợi của
mỗi nước khác nhau.
Vì vậy trong lời
Tuyên bố chung ngắn ngủi tại Miến Điện kỳ này khối 10 nước ASEAN đã không nêu
tên Trung Cộng mà chỉ kêu gọi suông các bên hãy: “Tăng cường hợp tác bảo đảm thực
hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), tuân
thủ các nguyên tắc đã được thừa nhận chung của luật pháp quốc tế và Công ước
của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, đặc biệt kêu gọi tất cả các bên thực hiện
kiềm chế và không sử dụng vũ lực, cũng như không tiến hành các hoạt động có thể
làm gia tăng căng thẳng và sớm đạt được Bộ Quy tắc về Ứng xử ở Biển Đông (COC)
như đã được thể hiện trong Nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về Biển Đông.”
Ngay cả Tuyên bố của Chủ tịch (Miến Điện) Hội nghị Cấp cao ASEAN-24 cũng
chỉ “bày tỏ quan ngại sâu sắc về các vụ việc đang diễn ra ở Biển Đông”
nhưng không chỉ đích danh Trung Cộng là nước đã gây ra cuộc khủng
hoảng ở Biển Đông từ ngày 03/05/2014.
Tuyên bố viết: ” Chúng tôi khẳng định tầm quan
trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải và
hàng không ở Biển Đông. Chúng tôi kêu gọi tất cả các bên tham gia Tuyên bố về
ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) thực hiện đầy đủ và hiệu quả tuyên bố
này nhằm tạo môi trường tin cậy và xây dựng lòng tin; thực hiện kiềm chế,
không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết các tranh chấp bằng biện
pháp hòa bình, tuân thủ các nguyên tắc đã được thừa nhận chung của luật pháp
quốc tế và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS). Chúng tôi
nhấn mạnh sự cần thiết của việc sớm đạt được Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông
(COC). Theo đó, chúng tôi ghi nhận tầm quan trọng của Tuyên bố của các Bộ
trưởng Ngoại giao ASEAN về tình hình hiện nay ở Biển Đông, đã được Hội nghị các
Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đưa ra ngày 10/05/2014″.
Trong Tuyên bố ngày 10/05, các Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN đã “yêu cầu các bên liên quan, trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc đã
được thừa nhận chung của luật pháp quốc tế và Công ước Liên Hợp Quốc về Luật
Biển 1982, thực hiện kiềm chế và tránh có các hành động có thể làm phương hại
đến hòa bình và ổn định ở khu vực; và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp
hòa bình, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.”
Sự kiện ASEAN không công khai nêu tên Trung Cộng đã gây ra cuộc khủng
hỏang mới tại Biển Đông bằng hành động đưa giàn khoan dầu khí HD-981 vào sâu
bên trong vùng “đặc quyền kinh tế” 200 hải lý (370 cây số) của Việt Nam đã thể
hiện chủ trương “trung lập” của ASEAN, nhưng lại đem lại “thắng lợi” cho
Trung Cộng.
Ngay từ Hội nghị cấp cao ASEAN
năm 2012 tại Nam Vang, Kampuchea, Trung Cộng đã áp lực thành công với Thủ tướng
nước chủ nhà Hun Sen để ông này không đưa ra tuyên bố chung của Hội nghị về
tình hình Biển Đông.
Lý do vì Bắc Kinh là nguồn tài
trợ và đầu tư chính tại Kampuchea với 2.7 tỷ dollars năm 2012. Trong khi
mậu dịch Lào-Trung Cộng cũng lên đến 1.728 tỷ dollars năm 2012 nên hai nước Cao
Miên-Lào luôn luôn đứng về phiá Bắc Kinh mỗi khi cần bỏ phiếu trong tổ
chức ASEAN.
Ngoài Phi Luật Tân, Mã Lai, Tân
Gia Ba, Nam Dương, Brunei và Việt Nam, hai nước Thái Lan và Miến Điện cũng có
những quen hệ kinh tế đặc biệt với Bắc Kinh nên khối ASEAN chưa bao giờ có thể
đòan kết và thống nhất lập trường khi phải đương đấu với Trung Cộng trong vấn
đề Biển Đông.
Vì vậy, Bắc Kinh luôn luôn lợi
dụng ưu điểm viện trợ và mậu dịch để trì hòan việc thảo luận Bộ Quy Tắc Ứng Xử
(COC,Code of Conduct) với ASEAN để không bị ràng buộc pháp lý.
Mục đích của COC là thay thế
cho Tuyên bố về Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (DOC,Declaration of Conduct) mà
Trung Quốc và khối ASEAN đã ký với nhau ở Nam Vang năm 2002. Văn kiện DOC
“không có tính cách pháp lý” nên nước nào cũng có thể “ vi phạm” hay “không cần
thi hành” mà không bị xử lý.
Đó là lý do tại sao Trung Cộng
đã tự vẽ ra hình Luỡi Bò hay còn gọi là Đường 9 Đoạn nạp cho Liên Hiệp Quốc
năm 2009 với tham vọng chiếm ¾ của diện tích 3.5 triệu cây số vuông của Biển
Đông mà không bị ASEAN ngăn chặn.
Từ đó, Bắc Kinh đã thao túng và
khuấy động làm mất ổn định thường xuyên ở Biển Đông bằng hành động “tự
tuyên bố chủ quyền” trên phần biển cuả nước khác.
Bắc Kinh cũng tự cho mình có
“quyền lợi cốt lõi” ở Biển Đông và tự coi vùng biển quan trọng này như
“ao nhà” của mình. Từ năm 2005, các tầu Hải Giám của Bắc Kinh đã tấn công
và ngăn chặn ngư dân các nước trong khu vực, đặc biệt từ Việt Nam đi đánh bắt ở
hai vùng biển Hòang Sa và Trường Sa.
NGHE VÀ HÀNH ĐỘNG
Trong cuộc xung đột mới trực
tiếp giữa Việt Nam và Trung Cộng về vụ giàn khoan HD-981, Việt Nam vẫn chưa dám
đưa Bắc Kinh ra trước tòa án quốc tế và không dám tố cáo Trung Cộng ra trước
Liên Hiệp Quốc dù Bắc Kinh đã vi phạm Luật Biển-Liện Hiệp Quốc năm 1982.
Nhiều giới trong nước, kể cả
Tiến sỹ Trần Cộng Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ đã nhiều lần
khuyên nhà nước nên kiện Trung Cộng ra tòa án Quốc tế như Phi Luật Tân đã
làm, nhưng chính phủ Việt Nam không nghe.
Như vậy, bây giờ, sau khi Trung
Cộng đã đặt giàn khoan HD-981 vào vùng biển kinh tế của Việt Nam thì liệu việc
kiện Bắc Kinh ra Tòa án Công lý Quốc tế hay Tòa Trọng tài Luật biển Liên
Hiệp Quốc có qúa trễ không ?
Không muộn. Đó là câu trà lời
của nhiều chuyên viên, ngược lại còn là cơ hội tốt nhất cho Việt Nam vào lúc
này vì bằng chứng giàn khoan HD-981 đã nằm chình ình ra đó.
Nhưng về phiá đảng và nhà nước
Việt Nam thì có vẻ như vẫn “lừng khừng” vì lãnh đạo không có lập trường dứt
khóat và chia rẽ trong vấn đề đối phó với giàn khoan HD-981 của Trung Cộng.
Lập trường “nhũn như con chi
chi” của Chính phủ Việt Nam đã phản ảnh qua lời nói của ông Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng tại Hội nghị cấp cao ASEAN ngày 11/5/2014 ở Miến Điện.
Ông nói : “Việt Nam cũng luôn chân thành mong muốn cùng với Trung Quốc giải
quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, bình
đẳng và tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn
định của Khu vực và Thế giới.”
Ngay cả Tổng Bí thư đảng Nguyễn
Phú Trọng và Ban Chấp hành Trung ương đảng cũng chỉ “ theo dõi” và “nghe báo cáo”, trong khi họp Hội nghị Trung ương 9 từ
ngày 08 đến 14/05/2014, về việc Trung Cộng đặt giàn khoan HD-981 trong
vùng “đặc quyền kinh tế”, vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền và quyền tài
phán của Việt Nam.
Tại sao một biến cố quan
trọng và cực kỳ nguy hiểm xâm phạm trắng trợn lãnh thổ Việt Nam của Trung Cộng
đã gây chấn động dư luận Âu-Á như thế mà không được thảo luận tại Hội nghị 9 ?
Trong diễn văn bế mạc
ngày 14/05 (2014), chỉ thấy ông Trọng “nói bâng quơ” rằng: “Trước những diễn biến phức tạp, khó lường trên thế giới, trong khu
vực, nhất là tình hình Biển Đông hiện nay, cần có sự quan tâm đặc biệt đối với
việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Xác định rõ
những thuận lợi, khó khăn, thách thức đang đặt ra và chủ trương, chính sách,
biện pháp cần áp dụng để giữ vững độc lập, chủ quyền, an ninh quốc gia, toàn
vẹn lãnh thổ và môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Nhận định, đánh
giá thật sát, đúng về kết quả đấu tranh, đẩy lùi 4 nguy cơ mà Đảng ta đã cảnh
báo để có chính sách, biện pháp phù hợp, bảo đảm thực hiện thành công Chiến
lược bảo vệ Tổ quốc đã được Hội nghị Trung ương 8 khoá XI ban hành gần đây.”
4 nguy cơ mà ông Trọng nói tới
đã được đặt ra tại kỳ họp “giữa nhiệm kỳ” từ 20-25/1-1994 của Ban Chấp hành
Trung ương khóa đảng VII thời ông Đỗ Mười. Đó là : “nguy cơ
tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa ; nạn tham
nhũng và các tệ nạn xã hội; âm mưu và hành động “diễn biến hòa bình” của các
thế lực thù địch.”
Vấn đề gọi là “nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa” của
20 năm trước đã biến thành “tự diễn biến” và “tự chuyển hoá” trong hàng ngũ cán
bộ, đảng viên dưới thời ông Nguyễn Phú Trọng. Các biến chứng của chữ “tự”
là “tự bỏ sinh hoạt đảng”, “tự cho mình quyền không tin vào đảng và chủ nghĩa
Cộng sản nữa”, “tự ý ra khỏi đảng” và “tự cho mình quyền không làm theo
lệnh đảng, mệnh lệnh của cấp trên.” !
Cũng rất ngạc nhiên là
trong diễn văn này, ông Trọng không nói đến giàn khoan HD-981 hay lên án Trung
Cộng đã “ngồi” vào biển của Việt Nam. Ông chỉ nói như khách qua đường : “Đặc biệt là, tình hình Biển Đông hiện đang diễn biến rất phức tạp,
nghiêm trọng, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải hết sức tỉnh táo,
sáng suốt, tăng cường đoàn kết, cả nước một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập,
chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa
bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước.”
Ông Nguyễn Phú Trọng là người
lãnh đạo đảng cầm quyền mà chỉ “dám nói” xa xôi như thế trong khi giàn khoan
HD-981 của Trung Cộng đã ngồi trong “nhà Việt Nam” thì giá trị lời nói của ông
được mấy đồng “nhân tệ” của Trung Cộng” ?
Trong khi ấy thì Thông
báo cuối Hội nghị Trung ương 9 cũng chỉ nói chuyện “cưỡi ngựa xem
hoa” đến “vô duyên” và “hời hợt lãng nhách” của 200 Ủy viên như thế này:
“Ban Chấp hành Trung ương theo dõi sát tình hình, nghe báo cáo của
các cơ quan chức năng về việc thực hiện các chủ trương, giải pháp của ta phản
đối, đấu tranh đòi phía Trung Quốc phải dừng việc đặt giàn khoan thăm dò dầu
khí Hải Dương 981 trong vùng biển nước tavà khẳng định: Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân
ta đoàn kết một lòng, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ
của Tổ quốc; giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hoà bình trên
cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật
Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và những thoả
thuận giữa lãnh đạo cấp cao Việt Nam – Trung Quốc; đồng thời giữ vững môi
trường hoà bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng
kêu gọi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tăng cường đoàn kết, nhất trí, đồng
tâm hiệp lực cả nước một lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, kiên quyết bảo
vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời giữ vững môi trường hoà
bình, ổn định để hợp tác và phát triển; phấn đấu hoàn thành các mục tiêu mà Đại
hội XI của Đảng đã đề ra, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.”
Nhưng liệu khối 90 triệu người
dân khốn khổ đang lo quân Trung Cộng tràn vào nhà như “cá nằm trên thớt”
có thể nào mà “đoàn kết, nhất trí, đồng tâm hiệp lực” với
một đảng đang “khúm núm” trước quân thù và lãnh đạo thì “nhát như cáy”
không dám kiên quyết và dứt khóat với giặc bành trướng phương Bắc trong vụ gìan
khoan HD-981 ?
Khốn nỗi, trong khi ông Trọng
và Nhà nước CSVN cứ nhai đi nhai lại mấy chữ vô nghĩa khuyên mọi người hãy “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển
bền vững đất nước” thì
Bắc Kinh đã sử dụng “súng đạn” và “vũ khí kinh tế” để buộc Việt Nam phải
đồng ý “gác tranh chấp để cùng khai thác” ngay trong vùng biển của Việt Nam!
Các lãnh đạo Việt Nam đã biết
âm mưu của Trung Cộng từ lâu nhưng cứ cù cưa không dứt khoát “của anh, của tôi”
mà lại chịu lép vế nhượng bộ vì đã lỡ “há miệng mắc quai” và “sập bẫy”
Trung Cộng nhiều phen rồi.
Hai trong số này là thỏa
hiệp bí mật Thành Đô (Tứ Xuyên) năm 1990 giữa phái đòan Tổng Bí thư đảng
Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trường (Thủ tướng) Đỗ Mười và Cố vấn Phạm
Văn Đồng họp với Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Cộng Giang Trạch Dân và
Thủ tướng Lý Bằng.
Chuyện “cá cắn câu” của đảng
CSVN trước đó nằm trong nội dung bức Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi
Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958 nhìn nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng, bao
gồm cả hai quần đảo Hòang Sa và Trường Sa.
Tiếp đến là các Hiệp
định, Hiệp ước, Tuyên bố, Nguyên tắc này kia tứ năm 1999 đến năm 2013 giữa Việt
Nam-Trung Cộng đã mở đường cho Bắc Kinh chiếm thêm đất, lấy thêm biển “rất hợp
pháp” của Việt Nam.
Hãy nghe Nhà thơ
Trần Đăng Khoa nói với báo Giáo Dục hôm 13/05/2014: “Chúng ta đã tôn trọng, thực hiện đúng cam kết, nhưng Trung Quốc
luôn nói một đằng làm một nẻo. Cái bi kịch lớn nhất của nước ta là lại phải ở
bên cạnh một ông bạn nham hiểm và rất xấu tính. Ở các nước khác trên thế giới,
trong đó hầu hết là các nước tư bản, họ sống với nhau rất êm đềm, hòa thuận.
Tôi đi từ Pháp sang Đức, từ Pháp sang Bỉ, hay từ Anh sang các nước khác, không
thấy có biên giới, không thấy hải quan. Cứ đi thẳng một lèo. Khi nhìn lên biển
chỉ đường, thấy dòng chữ khác, mới hay mình đã sang nước khác rồi.
Ngay cả kẻ thù của chúng
ta xưa như Pháp và Mỹ, mặc dù rất tàn bạo, nhưng họ không chiếm của ta một mét
đất nào. Còn ta với Trung Quốc thì sao? Mang danh anh em “môi hở răng lạnh”,
luôn nêu cao 16 chữ vàng, nhưng họ lấn của ta từng gốc cây ngọn cỏ. Họ nắn cả
dòng chảy của sông suối để nước xói mòn sang phía ta. Đây là trò rất trẻ con và
bẩn thỉu.
Ấy thế rồi cứ như tằm
nhấm lá dâu, cả một vùng đất đai cương giới của ta nằm gọn trong túi họ. Xin
đơn cử: Cửa Ải Nam quan, cột cây số không, nơi Nguyễn Trãi chia tay cha là
Nguyễn Phi Khanh, giờ đã nằm sâu trong đất Trung Quốc đến hàng chục cây số.
Thác Bản Giốc vốn từ bao
đời là danh thắng của chúng ta, giờ Trung Quốc đã chiếm một nửa rồi. Rồi
Hoàng Sa là của chúng ta, Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép từ mấy chục năm
nay.
Và bây giờ, Trung Quốc lại
đưa giàn khoan khủng, được xem như lãnh thổ di động của Trung Quốc được tàu
chiến bảo vệ lấn sâu vào thềm lục địa của ta, rồi ngang nhiên tấn công các
tầu thuyền chức năng của ta, vu vạ ta gây hấn với họ. Đó là một hành động ngang
ngược và bẩn thỉu nhất. Đúng là một kẻ “vừa ăn cướp vừa la làng”.
Nhà Thơ nổi tiếng Trần Đăng
Khoa, có lẽ là người ít nói về chuyện “thế sự nhạy cảm” mà còn trăn trở,
nhức nhối như thế thì tại sao cả Ban Chấp hành Trung ương đảng và Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng là những người “cầm cân nẩy mực” cho cả nước noi theo mà
không dám “đụng đến chân lông” Tập Cận Bình trong vụ gian khoan HD-981
thì có còn ra “thể thống” gì nữa không ?
Hay là các ông bà sợ “cởi trói”
cho dân để họ được quyền tự do biểu tình chống xâm lăng Trung Cộng khi nào họ
muốn chứ không cần phải đợi có “đèn xanh” của đảng cho phép mới làm thì dân sẽ
quay ra “lật nhào” các ông bà xuống hố ?
Nhưng nếu sợ rơi xuống hố và sợ
mất quyền lợi của mỗi cá nhân mà phải giữ đảng bằng mọi giá, dù phải nô lệ
Trung Cộng, thì Tổ quốc không còn là của người Cộng sản nữa.
Phạm Trần
All comments [ 0 ]
Your comments